HOME » LỄ HỘI VIỆT NAM »
Hiển thị các bài đăng có nhãn LỄ HỘI VIỆT NAM. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 23 tháng 3, 2018

Những lễ hội đặc sắc ở Phan Thiết - Bình Thuận

Phan Thiết là một vùng đất có rất nhiều phong tục của các dân tộc và các lễ hội đa dạng rất đặc sắc. Đây cũng chính là điểm mạnh để du khách trong và ngoài nước đến với Bình Thuận và tìm hiểu về một số lễ hội chính ở Phan Thiết.

Lễ hội Dinh Thầy Thím

Là một trong số ít những lễ hội phía Nam được đưa vào từ điển Lễ hội Việt Nam, Lễ hội Dinh Thầy Thím với khung cảnh thiên nhiên hữu tình và nét đặc sắc của riêng mình, đã mỗi ngày thêm thu hút đông đảo du khách gần xa tới Phan Thiết.

Hội Dinh Thầy có nhiều hoạt động mang sắc thái tín ngưỡng, người ta tin rằng Thầy Thím rất linh thiêng, khách hành hương Phan Thiết thành tâm sẽ được may mắn, bình an. Người ta dâng lễ vật chay vào tối ngày 15, cỗ chay và cỗ mặn vào ngày 16 tháng 9.


Lễ hội Nghinh Ông


Lễ hội Nghinh Ông là lễ hội của đồng bào người Hoa tại Phan Thiết tưởng nhớ đến Quan Thanh Đế quân (Quan Công), mang ý nghĩa văn hóa dân gian, thể hiện mong ước sự bình an, hạnh phúc và cuộc sống ấm no cho cả cộng đồng. Đây là lễ hội được đánh giá còn lưu giữ được hầu hết những giá trị văn hóa cổ truyền dù đã có “tuổi đời” gần 200 năm. Lễ hội được tổ chức 2 năm một lần, thu hút rất đông đảo đồng bào người Hoa từ khắp nơi và du khách về Phan Thiết dự lễ.

Tham gia diễu hành là 4 bang hội người Hoa: Phúc Kiến, Quảng Châu, Hải Nam, Triều Châu hóa trang với trang phục truyền thống, thành các nhân vật như Quan Công, Trương Phi, Bát Tiên, Tiên Nữ, Tôn Ngộ Không, Quan Thế Âm bồ Tát… Đặc biệt là màn diễu hành của con Rồng Thanh Long được xem là dài nhất Việt Nam và Đông Nam Á.


Lễ hội Cầu ngư


Cầu Ngư là lễ hội dân gian gắn liền với tín ngưỡng và đời sống cư dân ven biển miền Trung. Ở Bình Thuận, lễ hội Cầu Ngư có ở hầu hết các dinh vạn thờ cá Ông (cá Voi) trong tỉnh. Lễ hội Cầu Ngư tái hiện lại một cách sinh động phong tục truyền thống thờ cúng cá Ông theo những truyền thuyết mang đậm nét văn hóa dân gian.

Lễ hội Cầu Ngư ở dinh Vạn Thủy Tú, thành phố Phan Thiết thường diễn ra vào ngày 20/6 Âm lịch hàng năm và đã trở thành một lễ hội truyền thống của nhân dân ở đây. Ở mỗi kỳ lễ hội, bà con tổ chức lễ với các nghi thức cúng tế trang trọng, bên cạnh đó là phần hội với chèo Bả Trạo, hát Bội đan xen trong lễ. Ngoài ta, còn có các trò chơi dân gian của ngư dân miền biển như hát bài chòi, thi đua thuyền, lắc thúng giữa các Vạn với nhau như câu ca xưa còn truyền lại:

Dưới sông sắp đặt ghe đua
Trên bờ sửa soạn Miếu Chìa Trạo ca
(Hát chèo Bả Trạo)

Việc thờ tự, cúng tế, lễ hội ở Vạn nhằm hướng con người về với cội nguồn, với Tổ nghề và thắt chặt tình ái hữu tương tế.

Lễ hội Trung thu


Lễ hội Trung thu được tổ chức hàng năm vào đêm 14/8 Âm lịch ở thành phố Phan Thiết, du khách sẽ đắm mình trong không khí lễ hội hoành tráng với muôn sắc màu lung linh rực rỡ của đèn hoa được các em thiếu niên diễu hành trong đêm Trung thu trên các đường phố trung tâm, thể hiện nét văn hóa đặc sắc và dấu ấn thiêng liêng đối với mỗi người dù người lớn hay nhỏ, bởi ai cũng đã trải qua quãng thời gian thơ ấu với những kỷ niệm đẹp.

Đêm hội Trung thu chẳng những thể hiện nét đặc sắc, cái đẹp lung linh huyền ảo, mà nó còn mang ý nghĩa xã hội – nhân văn – kinh tế. Với những nét đặc sắc, độc đáo riêng của mình, lễ hội Trung thu tại thành phố Phan Thiết đã được sắc kỷ lịch Guiness Việt Nam công nhận là lễ hội Trung thu lớn nhất trong nước thu hút đông đảo du khách và nhân dân địa phương cùng tham gia.


Lễ hội đua thuyền

Vào ngày mùng 2 Tết Nguyên đán hàng năm, trên sông Cà Ty thành phố Phan Thiết diễn ra hội đua thuyền, đây là một trong những hoạt động thể thao lâu đời, gắn bó với đời sống văn hóa tinh thần của người dân nơi đây mỗi dịp xuân về. Trong không khí tưng bừng náo nhiệt của những ngày đầu năm, hàng vạn người dân tập trung hai bên bờ sông để xem và cổ vũ cho những đội thuyền từ khắp các nơi về đua tài. Từ trên bờ sông nhìn xuống, những chiếc thuyền đua như những mũi tên xé nước lao trên dòng nước trong xanh, trong tiếng hò dô vang dội của các tay chèo, hòa cùng tiếng reo hò cổ vũ của người xem tạo thành một bản hòa tấu của ngày hội rộn ràng, sôi động mang đậm nét văn hóa đặc sắc của địa phương.


Lễ hội Katê

Hai tỉnh có nhiều cư dân Chăm như Ninh Thuận và Bình Thuận cùng tổ chức lễ hội Katê vào ngày 1/7 Chăm lịch hằng năm (từ 25/9 đến 5/10 dương lịch) tại các đền, tháp, sau đó chuyển về các gia đình ở Phan Thiết.


Lễ hội Katê là lễ hội quan trọng và có quy mô lớn nhất, kéo dài 5 ngày của cộng đồng người Chăm theo đạo Bà La Môn. Đây là lễ tết để tưởng nhớ các anh hùng, thần linh, tổ tiên, các vị vua có công với nước, với dân đã được thần thánh hóa như: Pôklông Garai, Pôrômê. Lễ hội đồng thời với việc hành hương, là dịp viếng thăm, gặp gỡ các người thân...

Lể hội này ở Phan Thiết bắt đầu vào buổi tối trước ngày chính hội có nghi lễ trình y phục với các nghi thức trang trọng trong tiếng nhạc dân tộc và các điệu vũ cổ truyền. Trưa ngày chính hội là lễ dâng cúng và lễ rước thần, tắm tượng, mặc áo, đội mũ cho tượng... Khi trời sắp tối là kết thúc nghi lễ, mọi người hưởng lộc và tham gia trò chơi vui như ngâm thơ, múa hát...

Trong lễ này, nhân dân thuộc dân tộc Ra Glai trên núi cũng xuống phan thiet dự hội, chia sẻ niềm vui với người Chăm.
\

Lễ hội Cầu yên

Là một trong những lễ hội truyền thống của người Chăm tại Phan Thiết, được tổ chức hằng năm tại các xóm làng, xóm vùng dân tộc Chăm Bà Ni. Lễ hội diễn ra vào đầu tháng giêng Chăm lịch, kéo dài khoảng 3 ngày, 3 đêm.

Dân làng làm lễ Cầu yên để tống tiễn những điều xấu, không may của năm cũ. Nghi lễ được tiến hành vào lúc chạng vạng tối. Sau phần nghi lễ là đến các tiết mục múa, hát của người dân tộc Chăm và trò chơi thả thuyền.

Ngoài ra, đồng bào dân tộc Chăm ở Phan Thiết thường xuyên tổ chức các lễ hội khác như: lễ Cầu Đảo, lễ Rija Nưga, lễ Dấp Đập, lễ Cấm Phòng...

Lễ hội thả diều


Lễ hội quy tụ hàng trăm cánh diều đầy màu sắc, có nhiều hình dạng độc đáo, sáng tạo và kích thước đa dạng. Có thể kể đến như diều truyền thống, diều khí động học, diều quay… Trong đó, chủ yếu là những cánh diều động vật biển như bạch tuột, cá, mực, cua,…Một số cánh diều đại bàng, diều phượng hoàng, diều siêu nhân, diều quốc kỳ Việt Nam, diều lục giác truyền thống Nhật Bản,... cũng xuất hiện tại lễ hội. Có những con diều to lớn hơn chục mét và cũng có những cánh diều bé nhỏ chỉ bằng bàn tay người lớn.

Trên bãi biển lộng gió ngày hè, người dân địa phương và du khách trong nước lẫn quốc tế nô nức tụ họp đông đúc để thả diều và ngắm những cánh diều. Trong chuyến du lịch Phan Thiết, du khách sẽ được tìm hiểu về nghệ thuật diều từ các nghệ nhân, chiêm ngưỡng những cánh diều căng gió và thả cánh diều của riêng mình lên bầu trời xanh bao la, mênh mông.


Lễ hội diều không chỉ là sân chơi tưng bừng, nhộn nhịp mà nó còn là hoạt động hè đầy ý nghĩa đối với người dân, du khách từ trẻ em đến người lớn. Lễ hội diều như làn gió mát, thổi bay không khí nóng nực của ngày hè và đem đến cho du khách không gian bình yên, thanh bình giữa biển xanh, cát vàng và bầu trời mênh mông.

Sưu tầm

Thứ Ba, 20 tháng 3, 2018

Lễ hội tháp Bà Ponagar Nha Trang



Lễ hội Tháp Bà PoNagar Nha Trang diễn ra hàng năm từ ngày 20 đến 23 tháng 3 Âm lịch, tại di tích Tháp Bà PoNagar, thuộc phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Không gian lễ hội đã vượt ra ngoài phạm vi tỉnh Khánh Hòa. Ngoài người dân Khánh Hòa và người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận về tham gia lễ hội, còn có sự tham gia của người dân một số tỉnh thuộc khu vực miền Trung và Tây Nguyên, như: Đà Nẵng, Quảng Nam, Phú Yên, Đắc Lắc, Gia Lai, Lâm Đồng, Thừa Thiên – Huế, thành phố Hồ Chí Minh… Lễ hội Tháp Bà là nơi hội tụ của các tộc người Kinh, Chăm, Raglai và các cộng đồng tộc người khác ở miền Trung và Tây Nguyên.

Các hoạt động chính diễn ra trong lễ hội:

Lễ thay y: Nghi lễ được tiến hành ngày 20 tháng 3 Âm lịch. Vị chủ tế dâng trầm hương, nhang, hoa, trái cây và khấn vái. Sau đó, các thành viên trong Ban nghi lễ thay xiêm y, mũ miện để tắm tượng. Nước dùng để tắm tượng được nấu từ rượu với nước và thả các cánh hoa có hương thơm (5 loại). Hiện nay, lễ thay y không còn là nghi lễ mà các thiếu nữ trong xóm Bóng thay y Mẫu, thay vào đó là một số phụ nữ lớn tuổi thực hiện. Sau khi tắm tượng xong, Thánh Mẫu được mặc xiêm y và mũ miện mới do người dân dâng cúng.



Các đoàn chuẩn bị hoa quả và lễ dâng cúng Mẫu 

Lễ thả hoa đăng: Nghi lễ diễn ra ngày 20 tháng 3 Âm lịch. Đoàn rước từ tháp xuống xóm Bóng và đến đàn tế lễ bên dòng sông Cái. Cầu siêu xong, các thuyền trên sông đốt nến thả đăng khiến cho một khúc sông trở nên lung linh, huyền ảo.


Các đoàn dự lễ chuẩn bị thả hoa đăng

Lễ cầu Quốc thái dân an: diễn ra sáng ngày 21 tháng 3 Âm lịch, do Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Khánh Hòa chủ trì lễ cúng. Lễ hoàn kinh, cúng thí thực: Nghi lễ diễn ra trưa ngày 21 tháng 3 Âm lịch.

Dâng lễ Mẫu: Nghi lễ diễn ra giờ Tý ngày 22 tháng 3 Âm lịch để dâng hương lễ Mẫu.

Tế lễ cổ truyền, lễ Khai Diên và lễ Tôn vương: diễn ra ngày 23 tháng 3 Âm lịch, đoàn tế lễ gồm các hào lão và người dân Cù Lao (Xóm Bóng) dâng lễ theo nghi thức cổ truyền; Đoàn Tuồng biểu diễn lễ Khai Diên và Tôn vương ở sân khấu.


Đồng bào Chăm dâng lễ Mẹ xứ sở 

Múa Bóng và Hát văn: Diễn ra trong suốt các ngày lễ hội. Do diện tích trong tháp nhỏ, hẹp nên hạn chế số người vào tháp, các thành viên còn lại của đoàn đứng hầu lễ Mẫu ở sân tháp Chính. Sau đó các đoàn biểu diễn múa Bóng và hát Văn ở sân khấu trước Mandapa. Bên cạnh đó, trong những ngày diễn ra lễ hội còn có những buổi biểu diễn các tích tuồng cổ liên quan đến Thiên Y A Na Thánh Mẫu… luôn thu hút bà con nhân dân đến xem trong suốt dịp lễ hội.


Múa bóng ở lễ hội Tháp Bà Pô Nagar

Tất cả những hoạt động diễn ra trong lễ hội ở di tích tháp Bà Pô Nagar với không khí trang nghiêm, thể hiện tấm lòng thành kính, cùng không khí nhộn nhịp và hồ hởi càng làm tăng “tính thiêng” cho lễ hội tháp Bà PoNagar Nha Trang – Khánh Hòa.

Giá trị của di sản văn hóa

Lễ hội Tháp Bà PoNagar là biểu tượng của sự đoàn kết dân tộc, góp phần làm nên các yếu tố cố kết cộng đồng của các dân tộc trên dải đất miền Trung. Lễ hội là hoạt động góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Những nghi lễ, vật phẩm thờ cúng, trang phục truyền thống, điệu múa Bóng, vở tuồng cổ… được tái hiện trong lễ hội đã đáp ứng được nhu cầu sáng tạo, cũng như nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Mạch nguồn văn hóa tự chảy và ngấm dần qua các thế hệ mà không bị mai một theo thời gian.

Chính nhờ tín ngưỡng thờ Thiên Y Thánh Mẫu đã thấm sâu và chảy mãi trong dân gian nên đã có sức sống lâu bền trong đời sống tâm linh của người dân. Vì vậy, hàng năm những ngày diễn ra lễ hội bà con nhân dân khắp nơi hành hương về tháp Bà để cảm tạ ơn Mẫu và cầu xin Mẫu ban cho có sức khỏe, làm ăn được no đủ, tránh mọi tai ương, bệnh tât… Từ những người mẹ bao dung, tần tảo, đôn hậu trong mỗi gia đình, người dân Khánh Hòa đã tái tạo hình ảnh người Mẹ chung của cộng đồng, một người Mẹ tinh thần giúp con dân mạnh mẽ và có niềm tin để vượt qua những khó khăn, lao động sáng tạo để xây dựng cuộc sống ấm no,hạnh phúc.

Nét đặc sắc nhất ở lễ hội tháp Bà ngày nay còn được mọi người nhắc đến và quan tâm chính là điệu múa Bóng. Điệu múa đã được gắn với địa danh đi vào lịch sử với tên gọi xóm Bóng, cầu Xóm Bóng và đi vào thơ ca, nằm sâu trong tiềm thức nhiều người:

Ai về xóm Bóng quê nhà
Hỏi xem điệu múa dâng Bà còn không?

Thể thường tre lụy còn măng
Lẽ đâu tham đó bỏ đăng cho đành…


Về hình thức múa Bóng, còn được gọi là múa Dâng bông, tức là người ta kết hoa thành mâm hay hình tháp rồi đội lên đầu và múa. Nhưng cái tài tình của người vũ công là thân hình lắc lư, tay múa và chân nhảy theo điệu nhạc nhưng những bông hoa không hề bị rơi xuống đất. Mô tả về múa Bóng, Quách Tấn đã từng viết: “Người múa toàn là con gái. Áo xiêm rực rỡ; đầu đội, người cỗ hoa tươi, kẻ đèn lồng ngũ sắc. Đèn và hoa chồng cao như ngọn tháp. Vũ nữ múa theo điệu đàn điệu trống, đoanh lộn nhịp nhàng dưới ánh đuốc ánh đèn hừng hẫy. Họ múa rất khéo và rất tài. Chẳng những đôi tay đôi chân luôn luôn cử động, vừa dẻo vừa mềm, mà đầu và thân cũng luôn luôn ngửa nghiêng uốn éo theo bước chân nhịp tay, rộn ràng đều đặn. Thế mà đèn và hoa đội trên đầu, không vịn không đỡ mà vẫn không hề lay không hề dịch, dường như có những bàn tay vô hình nâng đỡ. Cảnh tượng vô cùng ngoạn mục” [1].

Ngày nay, các đoàn về dự lễ hội, sau khi dâng lễ sẽ tham gia múa Bóng ở tháp Bà Pô Nagar, những điệu múa Bóng đã ít nhiều bị ảnh hưởng của Đạo giáo dân gian.

Đối với múa Bóng của người Chăm: “Trình thức này [2] có phần múa là đặc biệt của Shiva giáo. Trong ba vị thần Tân Bàlamôn chỉ có Shiva là thần múa với điệu múa thiêng nổi tiếng và có tướng múa. Hiện nay, trong các lễ hội Chăm tỉnh Ninh Thuận – Bình Thuận như các lễ Rija, Katê đều có múa. Khi mời vị thần nào thì hát bài thánh ca và múa điệu múa riêng cho vị thần đó. Người múa là bà Bóng, ông Kain của Ahier hay ông vũ sư Acar trong Aval [3]. Tư liệu xưa về xóm Bóng bên cầu Hara cạnh Tháp Bà ở Nha Trang ghi nhớ sự có mặt của một đội ngũ múa Bóng chuyên nghiệp – Bà Bóng tức Muk Pajơw – múa hầu Shiva và sakti. Nhưng khi dịch Muk Pajơw (có khi viết Mưk Pajau) thành Bà Bóng thì đã diễn đạt theo Đạo giáo dân gian. Tư liệu về lễ hội Chăm Ninh Thuận – Bình Thuận hiện nay thì người múa đã có thể là người Ahier hay người Aval và trong múa thiêng đã có dấu ấn lên đồng của Đạo giáo dân gian. Còn trong các nghi lễ có thêm vẽ bùa yểm trấn, dùng hình nhân thế mạng thì ảnh hưởng Đạo giáo càng rõ rệt. Đạo giáo dân gian hội nhập vào Tân Bàlamôn giáo và Bàni giáo là hiện tượng muộn” [4].

Ghi nhận những giá trị di sản văn hóa phi vật thể ở di tích Tháp Bà Nha Trang, năm 2012, lễ hội Tháp Bà được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. Lễ hội Tháp Bà là điểm hội tụ các giá trị truyền thống của quá trình giao lưu văn hóa Việt – Chăm trong lịch sử. Thông qua lễ hội, du khách trong và ngoài nước, những nhà nghiên cứu hiểu thêm về lịch sử, về những nét đẹp trong văn hóa truyền thống của con người và mảnh đất Khánh Hòa.

Trung tâm Bảo tồn Di tích tỉnh

[1] Quách Tấn (2002) (tái bản), Xứ Trầm hương, Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hòa.
[2] Các nghi lễ của người Chăm.
[3] Ahier: Trước – Bàlamôn giáo; Aval: Sau – Bàni giáo.
[4] Nguyễn Duy Hinh (2010), Người Chăm – Xưa và Nay, Nxb Từ điển Bách Khoa và Viện Văn hóa, Hà Nội.

Thứ Ba, 6 tháng 2, 2018

Đặc sắc lễ hội Khmer

Lễ hội Dolta

Kết quả hình ảnh cho Lễ hội Dolta

Trước hết là lễ hội Chol Chnam Thmay. Đây là lễ hội mừng năm mới theo lịch cổ truyền của người Khmer. Theo tín ngưỡng, bà con tin rằng mỗi năm có một vị thần trên trời xuống hạ giới lo cuộc sống cho con người. Hết năm lại về trời để vị thần khác xuống thay. Vì thế, lễ hội Chol Chnam Thmay vừa là lễ hội đón năm mới, vừa là lễ tiễn thần cũ- đón thần mới.
Những ngày giữa tháng 4 dương lịch, bà con thường tổ chức Chol Chnam Thmay, trong 3 ngày 3 đêm. Đó là những ngày vui lớn của cộng đồng. Bà con thăm hỏi, chúc lẫn nhau, tổ chức nhiều hoạt động văn nghệ, thể thao. Đáng chú ý, những ngày này các ngôi chùa Khmer luôn đông nghịt người. Đến chùa, bao giờ người ta cũng mặc những bộ quần áo đẹp nhất. Ngày thứ nhất của lễ Chol Chnam Thmay là ngày lễ trọng. Người ta tắm gội, mặc quần áo đẹp, đội cỗ lên chùa. Từ 7 giờ sáng cho đến 9 giờ sáng và từ 5 giờ chiều cho đến 6 giờ chiều, là quãng thời gian bà con tới chùa đông nhất. Ngày thứ hai, bà con dâng cơm cho các vị sư vào vào buổi sớm và trưa. Còn ngày thứ ba thì làm lễ tắm tượng Phật. Nghi thức này được tiến hành vào chiều tối, nhằm tỏ lòng biết ơn thương nhớ Đức Phật đồng thời gột rửa mọi điều không may của năm cũ, bước sang năm mới, mọi sự như ý.
Sau đó, bà con rước các nhà sư đến nghĩa trang để thực hiện lễ cầu siêu cho linh hồn những người quá cố. Sau nghi thức cộng đồng, khi trở về nhà bà con cũng tiến hành lễ tắm tượng Phật và dâng cỗ chúc phúc ông bà cha mẹ.
Tuy nhiên, lễ lớn nhất trong năm của bà con Khmer Nam Bộ lại là lễ hội Dolta. Đây là lễ cúng ông bà, còn được biết đến rộng rãi trong ý nghĩa là lễ “xá tội vong nhân”. Lễ mang đậm tinh thần vị tha, bao dung, biết ơn và thành kính. Không chỉ tạ ơn những người đã khuất mà còn có ý nghĩa chúc phúc cho những người còn sống.

Đua bò tại Bảy Núi (An Giang) trong lễ hội Dolta

Kết quả hình ảnh cho Đua bò tại Bảy Núi

Lễ Dolta cũng được tổ chức trong 3 ngày, từ 29-8 đến mùng 1-9 âm lịch. Ngày đầu tiên, bà con dọn dẹp nhà cửa, bàn thờ tổ tiên. Chiều đến, gia chủ cúng linh hồn ông bà rồi sau đó mời ông bà cùng tới chùa nghe kinh Phật. Chiều ngày thứ hai, mọi người làm lễ rước linh hồn ông bà từ chùa về nhà để mời cơm và mời ở nhà chơi với con cháu đến khi lễ kết thúc mới trở lại chùa. Ngày thứ 3, cũng là ngày kết thúc, các gia đình đều chuẩn bị thức ăn, bánh trái như ngày đầu để cúng ông bà tại nhà trước khi tiễn linh hồn người quá cố ra đi. Đây được gọi là “cúng tiễn đưa”. Lễ Dolta chỉ kết thúc sau khi nghi thức này hoàn tất.
Trong lễ Dolta, bao giờ người ta cũng tổ chức đua bò. Đây đã trở thành nét đẹp trong cuộc sống tinh thần của người Khmer Nam Bộ. Đua bò diễn ra hàng năm. Nơi tổ chức đua bò thường là bãi đất trống, bằng phẳng, dài 200 m và rộng 100 m, có nước xăm xắp, đảm bảo độ trơn của bùn. Những đôi bò thường ngày vẫn cày ruộng hoặc kéo xe, nhưng trước khi đua chừng một tháng chúng được chăm sóc kĩ lưỡng, đầy đủ sức khỏe cũng như rất hăng hái. Nhiều nơi trong vùng Tây Nam Bộ có tổ chức đua bò, nhưng hội đua bò Bảy Núi (An Giang) là nổi tiếng nhất. Từng đôi bò được ách vào một chiếc bừa đặc biệt. Gọng bừa là bàn đạp gồm một tấm gỗ rộng 30 cm, dài 90 cm, bên dưới là răng bừa. Người điều khiển bò cầm roi mây hoặc một cây xà-lul lúc cần sẽ chích mạnh vào mông con bò khiến nó buộc phải lao nhanh về phía trước. Đua bò khác với đua ngựa. Nếu đua ngựa thì mỗi người cưỡi 1 con, còn đua bò thì một người phải điều khiển 2 con, nó có cái khó riêng của nó nhất là làm sao cho 2 con bò phải đạt tốc độ đồng đều.

Đua ghe Ngo lễ hội Ok om Bok

Kết quả hình ảnh cho Đua ghe Ngo lễ hội Ok om Bok

Lễ hội Ok om Bok cũng là một lễ hội khác của người Khmer, mang ý nghĩa của một lễ cúng trăng, tạ ơn và cầu mùa. Trong quan niệm của người Khmer, Mặt Trăng là vị thần cai quản thời tiết và mùa màng trong năm. Lễ hội này diễn ra hàng năm vào ngày Rằm tháng 10 âm lịch. Do là lễ cũng Trăng, nên thường được tổ chức vào buổi tối, khi không gian thanh bình vằng vặc ánh trăng. Bà con dâng lên thần Mặt Trăng các sản vật mùa màng để tỏ lòng biết ơn, đồng thời xin Thần phù hộ để mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Trong mâm lễ, bao giờ cũng có cốm dẹp, chuối và mía. Với lễ hội Ok om Bok, không chỉ có vầng trăng soi sáng mà không gian còn lộng lẫy, huyền ảo bởi những chiếc đèn nước, với niềm tin là mình đang gửi tới các vị thần mơ ước, khát vọng và sẽ được Thần biết đến.
Trong lễ hội Ok om Bok, người ta còn tổ chức đua Ngo. Ghe Ngo dài khoảng 22-24 m, ngang 1,2 m, có từ 50 đến 60 tay bơi. Mũi và lái của ghe cong, thân được trang trí hoa văn sặc sỡ, đầu ghe có hình con thú biểu trưng cho ghe của mình. Việc cầm lái, giữ lái để chiếc ghe đi đúng hướng, nhịp bơi của những mái dầm phải thật nhịp nhàng là những yếu tố quyết định đến tốc độ của chiếc ghe. Đây không chỉ là cuộc đua thể thao, mà sâu xa bên trong chính là nghi thức tiễn đưa thần nước về với biển cả. Đây cũng là một nghi thức tới thần rắn Nagar, với việc Thần đã biến thành khúc gỗ để đưa Phật qua sông. Lễ hội Ok om Bok còn được là lễ “đút cốm dẹp”, với việc mọi người thưởng thức những hạt cốm nếp đầu mùa. Cùng đó, bà con còn tổ chức thả đèn nước dưới sông để cúng dấu chân còn lưu lại của Đức Phật trên sông.
Lễ Nhập hạ được bà con Khmer tổ chức nhằm cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, gia đình yên vui hạnh phúc. Đây cũng là dịp để bà con dâng vật dụng sinh hoạt cho các chư tăng tại chùa trong 3 tháng Nhập hạ. Trong 3 tháng Nhập hạ (từ ngày 15-6 đến 15-9 âm lịch), ngoài việc thắp đèn cầy, các chùa Khmer còn đánh trống vào 2 buổi sáng (bắt đầu từ 4 giờ - 5 giờ) và chiều (từ 16 - 17 giờ) để giúp cho đồng bào của phum sóc chủ động được thời gian trong hoạt động sản xuất, sinh hoạt.
Lễ hội của dân tộc Khmer Nam Bộ được xem là hệ thống di sản mang nhiều giá trị văn hóa - lịch sử, có sự cuốn hút không chỉ đối với bà con Khmer mà cả với bà con các dân tộc khác ở Tây Nam Bộ.

BẮC PHONG (tổng hợp)

Thứ Ba, 30 tháng 1, 2018

Thứ Ba, 16 tháng 1, 2018

Một số lễ hội đặc sắc của các dân tộc ở Hà Giang

Có thể các lễ hội của đồng bào vùng cao Hà Giang không có quy mô rộng lớn như những lễ hội vùng xuôi nhưng với những giá trị nguyên bản, nó đã tạo nên nét đặc sắc riêng, độc đáo.

Lễ hội Gầu Tào. Ảnh: Internet

Với dân số tương đối đông, phân bố rộng khắp trong cả tỉnh, đồng bào Tày, Nùng được biết đến với lễ hội Lồng Tồng, tức là lễ hội xuống đồng. Hàng năm vào mùa xuân, người ta tổ chức cúng trên một đám ruộng nhất định trước bản. Mỗi gia đình sẽ đem đến một mâm lễ bao gồm: Thịt, rượu, các loại bánh, xôi ngũ sắc để dâng trời đất. Thầy cúng sẽ cầu khấn trời đất cho mưa thuận gió hoà để cho dân làm ăn thuận lợi, mùa màng bội thu tốt tươi. Sau phần lễ, người ta tổ chức nhiều trò chơi cho mọi người dân cùng tham gia như: Tung còn, đánh yến, đánh quay, kéo co, hát đối đáp…

Trong vài năm trở lại đây, người dân trong và ngoài tỉnh thường biết đến lễ hội lồng tồng của bà con người Tày ở xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên. Vào ngày Rằm tháng Giêng, sau lễ dâng hương chùa Sùng Khánh, người dân nơi đây lại vui hội lồng tồng ở ngay khoảnh đất dưới chân đồi trước chùa Sùng Khánh. Với những nét văn hoá đặc sắc, lễ hội lồng tồng của người dân nơi đây ngày càng thu hút đông du khách trong và ngoài tỉnh tham dự.

Còn với đồng bào Mông thì lễ hội Gầu tào (gruôv taov)- có nghĩa là hội chơi đồi hay hội chơi núi mùa xuân- được coi là tiêu biểu nhất. Đối với người Mông, khi hai vợ chồng lấy nhau đã lâu mà không có con trai, gia đình sẽ mời thầy cúng đến làm lễ cầu trời đất, thần linh và hứa nếu sinh được con trai thì họ sẽ tổ chức lễ hội cho mọi người vui xuân.

Lễ hội thường được tổ chức sau ngày mùng 2 tết, kéo dài 1 đến 3 ngày trên những khu đồi tương đối bằng, thuận đường đi lại. Ngày khai hội, ngoài việc chuẩn bị lễ vật do gia chủ thực hiện thì mọi thủ tục đều do ông thầy cúng tiến hành. Sau bài cúng tạ trời đất đã ban cho con cái và sức khoẻ của thầy cúng, đại diện các khách dự hội cầu chúc gia chủ, dân làng người yên, vật thịnh. Nghi lễ khai hội là điệu múa khèn, tiếp theo là cảnh hát hội do ông chủ hội (một người cao tuổi có uy tín trong làng) và một vài ông già hát dẫn lời. Kết thúc phần lễ, phần hội diễn ra rất sôi nổi khắp quả đồi rộng. Chỗ này là đám thi bắn nỏ, quay cù, chỗ kia là từng tốp các chàng trai, cô gái chơi đánh yến, ném quả pao, hát gầu plềnh… Đặc sắc nhất chính là thi múa khèn, người ta thi múa khèn trên cọc, những tay khèn cao thủ còn làm những động tác khá nguy hiểm như uốn người qua một đòn gánh bắc ngang trên chảo thắng cố… Các trò chơi diễn ra vô cùng hào hứng mặc dù phần thưởng cho người thắng cuộc chỉ là một bầu rượu ngô. Hết hội, thầy cúng và gia chủ làm lễ hạ cây nêu. Thân cây nêu được đem về làm dát gường cho gia chủ, chùm giấy hình nhân treo trên đỉnh cây nêu đem về treo trong buồng, bầu rượu thì được đổ tung ra 4 hướng… Lễ hội kết thúc nhưng đồng bào còn chơi xuân đến hết Rằm tháng Giêng mới bắt tay vào lao động sản xuất.

Lễ hội Gầu Tào thể hiện gần như đầy đủ các loại hình văn hoá dân gian của dân tộc Mông. Chính vì vậy, các ngành chức năng của Hà Giang đang từng bước khôi phục lễ hội này cho đồng bào vào những dịp xuân về.

Nếu như ở lễ hội lồng tồng của đồng bào Tày, Nùng hay lễ hội Gầu Tào của người Mông, phần hội tương đối đậm nét thì với lễ hội cấp sắc của người Dao tập trung chủ yếu vào các nghi lễ, vì thế phần hội có phần mờ nhạt.

Người Dao không chỉ nổi tiếng bởi đức tính cần cù, chịu khó làm ăn nên kinh tế phát triển khá ổn định mà còn bởi họ đã giữ gìn và bảo lưu hầu như nguyên vẹn những giá trị truyền thống của dân tộc mình. Một trong những giá trị đó chính là lễ cấp sắc- một nghi thức quan trọng không thể thiếu trong đời một người đàn ông Dao. Người Dao quan niệm rằng nếu chưa được cấp sắc thì tuổi có cao vẫn bị coi là chưa trường thành song nếu tuổi có nhỏ mà đã được làm lễ cấp sắc thì vẫn được cộng đồng thừa nhận là người đàn ông trưởng thành, được phép tham dự vào công việc của dòng họ, làng bản…

Lễ cấp sắc. Ảnh: Internet

Lễ cấp sắc có rất nhiều nghi lễ như: Lễ đội đèn, lễ cây giữ đèn, lễ hạ đèn, lễ giao binh mã, lễ trình diện Ngọc hoàng, lễ cấp bản sắc, lễ tạ ơn ma tổ tiên và thần thánh… Xen lẫn giữa các nghi lễ là rất nhiều điệu múa nghi lễ cổ truyền của người Dao.

Người Dao có nhiều nhóm khác nhau, sống ở nhiều vùng khác nhau nên cách thức tổ chức lễ Cấp sắc cũng có những điểm khác nhau. Song về nội dung, ý nghĩa thì đều giống nhau, các điều răn dạy ghi trong văn bản cấp sắc cho người thụ lễ đều hướng thiện, tuyệt đối kỵ làm điều ác. Đó là sự tôn trọng thầy giáo, biết ơn nghĩa sinh thành của cha mẹ, chung thuỷ với bạn bè, trọng nghĩa, có lòng vị tha, không phản bội, lừa gạt, dâm đãng… Những điều giáo huấn này được thực hiện bằng lời thề dưới sự chứng giám của thần linh, trời đất, tổ tiên và cộng đồng nên có giá trị giáo dục rất lớn. Những lời cúng trong từng nghi lễ có giá trị lịch sử rất lớn. Vậy nên, mỗi lần tham gia lễ cấp sắc, cộng đồng lại được nghe lại cội nguồn, xuất xứ của dân tộc mình, tạo nên lòng tự hào dân tộc, ghi nhớ công ơn của ông cha để sống sao cho xứng đáng với truyền thống tốt đẹp đó. Lễ cấp sắc cũng là dịp để cộng đồng được gặp gỡ, giao lưu, trai gái có thể nhảy múa, ca hát… Đây thực sự là ngày hội của mọi người dù chỉ trong họ tộc, làng bản.

Từ những sưu tầm, nghiên cứu thực tế cho thấy, lễ cấp sắc của đồng bào Dao là cả một kho tàng văn hoá cổ truyền mang tính giáo dục và giá trị văn hoá nghệ thuật rất lớn, là nét văn hoá điển hình trong đời sống tinh thần của đồng bào.

Nói đến những lễ hội đặc sắc của vùng đất này không thể không nhắc đến lễ hội nhảy lửa của người Pà Thẻn. Người Pà Thẻn có khá nhiều lễ tết trong một năm nhưng đáng chú ý nhất là lễ nhảy lửa. Sau khi ăn tết xong người Pà Thẻn thường tổ chức lễ nhảy lửa để mọi người cùng vui chơi. Lễ hội này với nhiều nghi thức mang màu sắc thần bí như sau khi thầy cúng làm lễ xong, ý như là gọi các ma về nhập vào các cậu thanh niên- thường khoảng 12 thanh niên khoẻ mạnh- khi đó họ có thể nhảy trên than nóng, thậm chí có người còn bốc cả than nóng cho vào mồm … Với người Pà Thẻn thì nhảy lửa là một tục lệ mang tính chất cộng đồng, là dịp để mọi người cùng nhau vui vẻ, thư giãn.

Lễ hội nhảy lửa. Ảnh: Internet

Trên đây chỉ là một vài lễ hội tiêu biểu của một số ít các dân tộc đang sinh sống ở Hà Giang. Trong thực tế, mỗi dân tộc đều có một hệ thống các lễ hội riêng của mình. Tuy nhiên, với điều kiện sinh sống đặc trưng của đồng bào, lễ hội của các dân tộc thường chỉ diễn ra trong phạm vi khiêm tốn làng bản của mình. Không những thế, có rất nhiều lễ hội của đồng bào vì nhiều nguyên nhân khách quan đã không được tổ chức từ lâu. Chính vì vậy, nhằm giữ gìn và bảo tồn giá trị truyền thống các dân tộc, trong những năm gần đây, Hà Giang cũng đã có nhiều nỗ lực trong việc nghiên, cứu, sưu tầm và khôi phục lại lễ hội ở một số dân tộc. Tuy nhiên con số này còn khá khiêm tốn, thực tế là còn rất nhiều lễ hội đặc sắc của đồng bào cần được khôi phục, gìn giữ và giới thiệu vì ở đó lưu giữ hầu như những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc đó.

Nghiên cứu, sưu tầm, khôi phục lại những lễ hội đặc sắc của các dân tộc không chỉ góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc như chủ trương của Đảng và nhà nước ta mà còn giúp tự tôn lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ - tương lai của vùng đất này./.

Theo Báo Hà Giang

Thứ Hai, 15 tháng 1, 2018

Lễ hội Dinh Cô Long Hải năm 2017: Khách đông, an ninh trật tự bảo đảm

Lễ hội Dinh Cô Long Hải năm 2017 (diễn ra từ ngày 7 đến 9-3) đã thu hút hơn 100 ngàn lượt khách đến thắp hương, chiêm bái, vui chơi. Nhờ chuẩn bị tốt mọi mặt, tình hình an ninh trật tự, vệ sinh môi trường được bảo đảm tốt, giúp du khách an tâm, thoải mái khi đến tham dự lễ hội. 

VUI HỘI

Sáng 9-3 (nhằm ngày 12-2 âm lịch), tại Khu di tích lịch sử - văn hóa Dinh Cô (thị trấn Long Hải, huyện Long Điền) diễn ra lễ chính của lễ hội Dinh Cô Long Hải năm 2017. Từ rạng sáng, ông Trương Minh Tuấn (khu phố Hải Hà, thị trấn Long Hải) chỉ huy 10 chiếc ghe chở các vị hương chức, kỳ lão trong Ban Tế tự Khu di tích lịch sử - văn hóa Dinh Cô xuất phát từ bãi biển trước khu vực Dinh Cô rồi chạy ra cách bờ chừng 3 hải lý. Tại đây, đoàn tổ chức lễ cúng và rước bài vị Cô. Cùng thời gian đó, đông đảo người dân và du khách đã tề tựu về bãi biển trước khu vực di tích Dinh Cô chờ đón đoàn Nghinh Cô trên biển. 7 giờ 20, đoàn rước bài vị Cô trên biển cập bờ. Sau đó, đoàn Nghinh Cô cùng với đoàn lân - sư - rồng, đoàn rước cờ hội, chiêng trống, đội học trò lễ rước bài vị Cô về Dinh nhập Điện. Đoàn xếp thành hàng dài, nối đuôi nhau từ bãi biển đến khu vực Dinh Cô, chiêng trống, nhạc ngũ âm rộn ràng, cờ, trang phục đủ màu sắc khiến cho không gian lễ hội rực rỡ sắc màu. Đến 9 giờ, diễn ra nghi lễ cúng Cô và các nghi thức: chầu mời, dâng lộc.

Song song với nghi lễ cúng, trước cổng Dinh Cô, các đoàn lân - sư - rồng liên tục biểu diễn. Lân, rồng liên tục nhảy múa, xếp hình vòng tròn, ngôi sao, hình tam giác… đẹp mắt khiến người dân và du khách thích thú. Du khách Trần Thị Tiên (15/17, Làng Tăng Phú, phường Tăng Nhơn Phú A, quận 9, TP. Hồ Chí Minh) nói: “Không khí lễ hội thật vui và sôi động, tôi đứng xem múa lân - sư - rồng cả nửa tiếng rồi mà không thấy chán. Từ 2 năm nay, tôi đều xuống thắp hương, chiêm bái, cầu sức khỏe, bình an cho gia đình dịp lễ Dinh Cô và mong Cô phù hộ cho quầy hàng tạp hóa của tôi luôn đông khách”. Còn chị Trần Thị Bé Tư (33 tuổi), ngư dân ngụ tại tổ 16, khu phố Hải Phong 2, thị trấn Long Hải cho biết, chồng chị làm nghề đánh bắt cá, còn chị làm nghề đan lưới nên rất tin vào sự phù hộ của Cô cho công việc làm ăn. “Hôm nay tôi đã thắp nhang, cầu mong Cô phù hộ cho chồng được sức khỏe, đi biển an toàn, đánh bắt được nhiều tôm, cá”, chị Bé Tư nói.
Múa lân-sư-rồng trong Lễ hội Dinh Cô.

BẢO ĐẢM AN NINH, AN TOÀN CHO DU KHÁCH

Do diễn ra vào những ngày giữa tuần nên năm nay lượng khách tham gia lễ hội Dinh Cô không đông bằng năm ngoái. Theo ước ước tính của Ban tổ chức, khoảng 100 ngàn lượt người đã về dự lễ hội Dinh Cô năm nay (giảm 20 ngàn lượt người so với năm 2016). Theo ghi nhận của phóng viên Báo Bà Rịa-Vũng Tàu, tình hình an ninh trật tự, vệ sinh môi trường tại lễ hội được bảo đảm tốt, 6 đội vệ sinh môi trường của huyện Long Điền liên tục dọn dẹp 3 ca/ngày nên vệ sinh môi trường khu vực diễn ra lễ hội tương đối sạch sẽ. Dù vẫn còn tình trạng người bán hàng rong, bán nhang, vé số tập trung trước khu vực Dinh Cô nhưng Đội trật tự đô thị thị trấn Long Hải và BQL Khu di tích lịch sử - văn hóa Dinh Cô thường xuyên nhắc nhở nên không xảy ra tình trạng lộn xộn. Để đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông, Công an huyện Long Điền bố trí 8 chốt chặn, điều tiết, hướng dẫn giao thông tại các tuyến đường trung tâm thị trấn Long Hải; lắp đặt biển báo hiệu điều khiển giao thông và sơ đồ hướng dẫn gồm: 28 biển báo cấm, 17 biển hướng dẫn và 3 sơ đồ phân luồng. Do vậy, trong thời gian diễn ra lễ hội, đường sá trên địa bàn thị trấn Long Hải thông thoáng, các phương tiện giao thông đi lại thông suốt và an toàn. Bên cạnh đó, Ban tổ chức còn bố trí tổ cấp cứu thủy nạn hơn 10 người liên tục túc trực tại bãi biển dọc khu vực Dinh Cô để nhắc nhở du khách tắm biển trong khu vực an toàn. Anh Nguyễn Thành Lan, tổ trưởng tổ cấp cứu thủy nạn cho biết, trong 3 ngày diễn ra lễ hội, không xảy trường hợp bị đuối nước.
Kết quả hình ảnh cho LỄ HỘI DINH CÔ

Ông Lâm Văn Hồng, Phó Chủ tịch UBND huyện Long Điền, Trưởng Ban tổ chức lễ hội cho hay: “Năm nay, công tác bảo đảm an ninh, an toàn cho du khách, công tác tổ chức lễ hội được chú trọng nên lễ hội diễn ra an toàn, tốt đẹp. Huyện đã công bố các số điện thoại đường dây nóng của lãnh đạo huyện và các phòng, ban nhưng không có trường hợp nào phản ánh về giá cả, dịch vụ. Đây là tín hiệu đáng mừng cho huyện”.

Bài, ảnh: CẨM NHUNG